Trung Quốc muốn “đánh” đô la Mỹ?


Ngô Nhân Dụng

Như nhật báo Người Việt đăng tin, một bài đăng trên tạp chí Cầu Thị của đảng Cộng sản Trung Quốc đã lên tiếng đe dọa các nước láng giềng, trong đó có Việt Nam. Tác giả bài đăng ngày 10 tháng 12 là Từ Vận Hồng, một ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Ông Hồng kết án chính phủ Mỹ có kế hoạch 6 điểm nhằm tấn công Trung Quốc. Và ông bầy ra một kế hoạch 7 điểm mà Trung Quốc có thể dùng để chống lại Mỹ. Trong cuộc đấu Mỹ – Hoa này, ông Hồng nói các nước lân cận Trung Quốc không được thân với Mỹ, phải đứng về phía Bắc Kinh. Và một mặt trận ông tính chính phủ Bắc Kinh sẽ huy động được các lân bang hỗ trợ để “đánh” Mỹ là trong thị trường tiền tệ (chữ “đánh” do báo Người Việt dịch, chúng tôi không có nguyên bản).

Trước hết, chúng ta sẽ coi chính phủ Trung Quốc có thể ép các lân bang đứng về phía họ được hay không. Một lý do sẽ làm các nước từ Nhật Bản, Nam Hàn cho tới Việt Nam phải ủng hộ Trung Quốc, ông Hồng nghĩ, là cán cân mậu dịch của các nước này hiện đang “thâm thủng” đối với Trung Quốc; tức là họ nhập cảng hàng từ Trung Quốc nhiều hơn bán hàng cho Trung Quốc. Có lẽ ông Hồng nghĩ tới Việt Nam trong khi viết điều này. Vì cán cân thương mại của Việt Nam khiếm hụt nặng nề, đối với nhiều nước chứ không riêng gì Trung Quốc. Và chính phủ Việt Nam thì rất dễ bị áp lực để làm theo ý của Bắc Kinh. Nhưng chính quyền Hà Nội dễ bị áp lực của Trung Quốc không phải vì thâm thủng mậu dịch, mà vì nhiều lý do không dính gì tới mậu dịch cả!

Còn đối với các nước khác thì tình hình phức tạp hơn. Các nước cũng nằm trong quỹ đạo của Bắc Kinh ít nhiều, như Miến Điện, Campuchia hay Lào thì nếu có “trợ chiến” cho Trung Quốc trong cuộc tấn công đồng Mỹ kim thì sức đánh của họ cũng không hiệu quả bao nhiêu; họ khó làm cho đồng đô la bị lay chuyển. Những nước Đông Nam Á khác như Thái Lan, Mã Lai, Singapore hay Phi Luật Tân thì xưa nay vẫn buôn bán với Mỹ có lời, họ chả dại gì đi làm đầy tớ cho Trung Quốc gây hấn với Mỹ.

Các nền kinh tế lớn như Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc thì chưa chắc Bắc Kinh đã ép được họ. Vì trong một thị trường tự do như thương mại quốc tế, người bán và người mua không biết chắc ai có khả năng đe dọa được người khác bắt phải nghe mình. Ông Từ Vận Hồng có vẻ như chưa đi mua bán trong thị trường tự do bao giờ, cho nên ông suy nghĩ một cách quá đơn giản. Ông nghĩ cái anh bán được nhiều hàng thì anh ấy mạnh, còn anh nào phải đi mua nhiều là anh yếu. Do đó, thằng mạnh nói thì thằng yếu phải nghe. Dưới chế độ kinh tế tập trung hoạch định thì điều này có thể đúng. Công ty lớn bán nhiều mặt hàng cho các công ty nhỏ, nếu nó ngưng cung cấp hoặc chỉ chậm trễ thì những thằng nhỏ không đủ việc làm để đạt chỉ tiêu; phải đi tìm các đồng chí để hối lộ ngay!

Trong thị trường tự do không giống như vậy. Nếu không mua được ở nơi này, người ta sẽ đi tìm mua nơi khác. Có người mua thì sẽ có rất nhiều người muốn bán; không biết là ai cần ai hơn. Anh chỉ tạo được áp lực với người ta nếu anh độc quyền bán một thứ hàng mà không ai khác bán cả; hoặc hàng của anh phẩm chất tốt không ai so sánh được, đó cũng là một thứ độc quyền. Trên thế giới hiện nay thứ độc quyền đó rất hiếm.

Khi việc mậu dịch được tự do, một nước mua quá nhiều hàng của nước khác và bán quá ít sẽ lâm vào cảnh thâm thủng mậu dịch; còn bên kia thì thặng dư. Nhưng chính nước có cán cân thương mại thặng dư lại cần đến nước kia nhiều hơn. Muốn biết ai cần ai hơn, thử tưởng tượng khi thương mại ngưng lại thì ai khốn khó hơn. Có khi nước thặng dư bị lệ thuộc vào nước kia chứ không phải chỉ “cần” mà thôi.

Lý do là vì khi hai nước xung đột, thương mại đình trệ, thì người dân nước đang thâm thủng sẽ chỉ chịu thiệt hại chút đỉnh, vì từ nay họ không mua được hàng rẻ, phải đi mua nơi khác đắt hơn. Ngược lại, chính quốc gia đang thặng dư trong cán cân thương mại sẽ lo lắng hơn. Vì nếu không tiếp tục bán được hàng thì kinh tế sẽ bị đình trệ, có thể sẽ suy yếu, hoặc khủng hoảng. Lấy thí dụ hai nước Mỹ và Trung Quốc. Cán cân thương mại Mỹ thâm thủng nặng đối với Trung Quốc; trong năm 2010 dân Mỹ mua hàng trả cho Trung Quốc 365 tỷ đô la trong khí chỉ thu về 92 tỷ nhờ bán hàng cho nước Trung Hoa; Mỹ thâm thủng là 273 tỷ, Trung Quốc thặng dư cùng con số đó. Thử tưởng tượng nếu giao thương ngưng trệ thì Trung Quốc sẽ phải lo kiếm ai để bán ra thêm 273 tỷ một năm? Không bán được hàng thì hàng triệu dân thất nghiệp sẽ làm gì? Hàng trăm triệu công nhân lang thang từ nông thôn ra thành phố kiếm việc, họ sẽ đi đâu? Số khiếm hụt thương mại của Mỹ thực sự đang giúp cho xã hội Trung Quốc ổn định, mà các nước khác đang thâm thủng mậu dịch với Trung Quốc cũng y như vậy. Đến bao giờ thì Trung Quốc mới thoát khỏi cảnh lệ thuộc vào xuất cảng, chúng ta chưa biết được; vì khi điều chỉnh cơ cấu kinh tế để gia tăng số tiêu thụ nội địa, bớt lệ thuộc vào xuất cảng, thì chính giai cấp đang nắm quyền ở Trung Quốc sẽ phải giảm bớt những ưu thế của họ.

Không bán được hàng thì
hàng triệu dân thất nghiệp sẽ làm gì?
Hàng trăm triệu công nhân lang thang
từ nông thôn ra thành phố kiếm việc,
họ sẽ đi đâu?

Hiện nay họ chỉ sử dụng sức lao động của những người bên dưới để chế tạo hàng hóa rẻ tiền để xuất cảng. Họ không cho giai cấp dưới được tiêu thụ nhiều. Tiền thu vào nhờ xuất khẩu được chi tiêu cho dân thành thị, nông thôn chịu hy sinh. Cơ cấu kinh tế, trật tự xã hội đó đã được đảng Cộng sản lập ra từ ba chục năm nay, muốn thay đổi thì những người đang hưởng thụ phải chịu hy sinh. Đó là một việc rất khó làm. Cho tới khi nào cơ cấu kinh tế đó thay đổi thì kinh tế Trung Hoa vẫn còn lệ thuộc vào việc xuất cảng. Họ vẫn lệ thuộc vào những nước đang mua hàng của họ, những nước thâm thủng mậu dịch đối với họ. Kế hoạch của ông Từ Vận Hồng bảo đảng Cộng sản hãy làm áp lực với các nước láng giềng đang thâm thủng mậu dịch với Trung Quốc là một ảo tưởng.

Lý luận kinh tế của ông Từ Vận Hồng rất lỏng lẻo. Ông định đe dọa các nước láng giềng mà nói năng lúng túng, quanh quẩn như thế thì làm sao khiến họ sợ được! Những nước láng giềng mà từ lâu vẫn sợ Trung Quốc, thì không cần dọa thêm làm gì nữa; dù đe dọa về kinh tế hay về quân sự! Đối với các chư hầu, chỉ cần nêu cao mối tình “trước là đồng chí sau là anh em” thì tự nhiên “anh bảo em nghe,” không cần dọa dẫm thêm cho mệt!

Bây giờ chúng ta suy nghĩ về phần thứ nhì trong đề nghị của ông Từ Vận Hồng. Ông Hồng nói Trung Quốc hãy liên kết với các nước khác, tấn công vào đồng đô la Mỹ, làm cho Mỹ “khốn đốn về kinh tế.” Không biết ông có kế hoạch hay chiến lược cụ thể nào hay chưa; nhưng đề nghị của ông hoàn toàn đi ngược với chính sách của Bắc Kinh hiện nay! Bắc Kinh đang làm ngược lại, phải nói là hoàn toàn ngược lại với ý kiến của ông Hồng. Tức là họ đang muốn cho đồng đô la Mỹ đứng thật vững, không muốn cho địa vị của nó bị lung lay.

Thí dụ, mấy tháng trước khi Ngân hàng Trung ương Mỹ, gọi là FED, đưa ra kế hoạch sẽ chi 600 tỷ mỹ kim mua công trái cũa chính phủ Mỹ, Bắc Kinh đã phản đối không ngớt. Tại sao? Vì hành động này sẽ làm cho đô la Mỹ xuống giá! Không khác gì FED in thêm 600 tỷ đô la đưa cho các ngân hàng ở Mỹ để họ cho vay; hậu quả sẽ làm cho đồng đô la Mỹ xuống giá. Khi chính phủ Mỹ cho thêm nhiều đô la chạy từ trong ngân hàng ra ngoài xã hội, thì những đồng tiền đó không phải chỉ chạy quanh trong nước Mỹ. Chúng sẽ vượt biên chạy đi khắp thế giới! Tại sao Chính phủ Trung Quốc không muốn đô la xuống giá? Có nhiều nguyên nhân. Một lý do là họ không muốn đồng “tiền nhân dân” của họ bị lên giá vì giá đô la Mỹ xuống.

Từ nhiều năm qua, các đại biểu quốc hội cũng như các nhân viên chính quyền Mỹ đã luôn miệng than phiền chính phủ Bắc Kinh cố ý ghìm giá trị đồng “nhân dân tệ” của họ thật thấp, thấp một cách bất bình thường. Không riêng gì nước Mỹ mà các nước Âu Châu cũng than phiền chính sách “Ghìm giá hàng xuống thật rẻ” của Trung Quốc, qua việc ghìm giá đồng tiền của họ trên thị trường hối đoái.

Họ ấn định giá “đồng nguyên” theo một tỷ lệ cố định so với đô la, không cho giá nguyên tăng lên. Nếu giá “đồng nguyên” tăng thì hàng Tàu bán sang Mỹ sẽ tăng giá; bán sang Âu châu và các nơi khác cũng tăng giá. Nền kinh tế Trung Quốc sống nhờ xuất cảng, trong đó dân Mỹ là những bạn mua hàng chịu chi nhất. Không bán được hàng ra ngoài thì hàng trăm triệu thanh niên Trung Quốc sẽ thất nghiệp. Đó là một lý do chính khiến Bắc Kinh chỉ muốn “ủng hộ” cho giá trị đồng đô la được vững vàng, tức là đồng tiền của Trung Quốc cứ giữ cho thấp tốt hơn. Phá đồng đô la tức là phá chính sách đó của Trung Quốc! Ông Từ Vận Hồng phải tìm kế hoạch khác nếu muốn tấn công Mỹ!

Một lý do nữa khiến Bắc Kinh cần chính phủ Mỹ giữ giá trị của đồng đô la không cho nó xuống, là vì mỗi lần giá đô la Mỹ xuống thì chính sách tiền tệ của nước Tàu phải điều chỉnh theo. Có một quy tắc tài chánh rất giản dị: Khi một quốc gia ấn định hối suất cố định đối với đô la Mỹ, thì coi như quốc gia đó đã từ bỏ phần nào chủ quyền của họ trong chính sách tiền tệ. Coi như Bắc Kinh đã nhường cho Ngân hàng Trung ương Mỹ một phần quyền quyết định chính sách tiền tệ của nước Trung Hoa.

Tại sao lại có vụ “chuyển giao” quyền quyết định này? Chúng ta hãy lấy một thí dụ giản dị. Các chính sách về tiền tệ nhắm điều chỉnh khối lượng tiền lưu hành trước nước; một khí cụ quan trọng là ấn định lãi suất. Ngân hàng trung ương tăng hay giảm lãi suất làm cho số tiền chạy trong dân gian bớt đi hay nhiều hơn. Do đó, sẽ ảnh hưởng tới giá cả mọi thứ. Khi có thêm nhiều tiền lưu hành quá thì các món hàng đều tăng giá, chúng ta gọi là lạm phát. Ngược lại, khi tăng lãi suất làm giảm bớt số tiền lưu hành thì người tiêu thụ sẽ bớt mua sắm, các nhà sản xuất cũng bớt làm ăn. Quyền quyết định trên lãi suất, và nói chung, quyền quyết định trên số lượng tiền lưu hành, là một chủ quyền của mỗi quốc gia, không khác gì chủ quyền trên lãnh thổ vậy.

Nhưng khi đồng tiền nước nào được ấn định “gắn chặt” vào đô la Mỹ, thì Ngân hàng Trung ương Mỹ sẽ có ảnh hưởng trên lãi suất cũng như số tiền lưu hành của nước đó. Thí dụ, khi mỗi đô la Mỹ được đổi thành 6 đồng nguyên không cho xê xích, thì nếu Ngân hàng Trung ương Mỹ (FED) tăng hay giảm lãi suất ở Mỹ, sớm muộn gì Ngân hàng Trung ương Trung Quốc cũng phải tăng hoặc giảm lãi suất theo cùng chiều.

Nếu họ không chịu tăng hoặc giảm theo thì sao? Giả thử lãi suất ở Mỹ giảm bớt 1% mà lãi suất bên Trung Quốc không giảm theo, thì một hiện tượng gọi là “làm trọng tài” (arbitrage) sẽ diễn ra để lập lại thế cân bằng. Giống như bất cứ khi nào cùng một món hàng mà bán với giá chênh lệch ở hai cái chợ gần nhau. Nếu ở chợ A bán món hàng đó rẻ, người ta sẽ đi mua hàng ở chợ A, rồi đem sang bán ở chợ B được giá cao hơn. Nhiều người làm như vậy, sẽ khiến cho giá hàng ở chợ A đang rẻ phải tăng lên (vì cầu tăng), còn giá bán ở chợ B sẽ giảm xuống (vì nguồn cung cấp tăng). Cuối cùng, giá hàng phải đạt tới một trạng thái quân bình, cho nên việc mua bán trên gọi là “làm trọng tài”.

Tương tự, nếu lãi suất bên Trung Quốc không giảm trong khi lãi suất ở Mỹ giảm; điều này cũng giống như giá hàng ở bên Trung Quốc rẻ hơn bên Mỹ. Nhiều người sẽ đi vay tiền ở Mỹ (trả lãi thấp) rồi đem sang Tàu cho vay (được hưởng lãi suất cao hơn). Hệ thống ngân hàng quốc tế bây giờ cho phép người ta vay và cho vay xuyên qua lục địa, qua máy điện toán trong mấy phút đã xong. Cứ như vậy, cuối cùng lãi suất ở bên Trung Quốc sẽ phải giảm xuống giống như bên Mỹ đã giảm.

Hiện tượng Trọng Tài này không có nghĩa là lãi suất ở hai nước phải bằng nhau. Vì khi người ta đi vay đô la thế nào họ cũng bằng lòng trả lãi suất cao hơn khi đi vay đồng nhân dân tệ. Điều quan trọng là khi đồng tiền hai nước gắn chặt với nhau lãi suất hai nước phải cùng tăng hay cùng giảm giống nhau. Tức là Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng chính sách của Hệ thống Dự trữ Liên bang bên Mỹ, mất một phần nào chủ quyền quyết định về tiền tệ. Trên đây là một thí dụ về lãi suất. Mỹ thay đổi thì Tàu cũng phải lo thay đổi. Những khí cụ khác trong chính sách tiền tệ cũng vậy.

Chính vì thế, chính phủ Bắc Kinh chắc chắn muốn đồng đô la Mỹ phải ổn định. Tiền Mỹ ổn định thì tiền Tàu cũng yên. Phá cho đô la lên xuống bấp bênh tức là tự gây phiền phức cho chính nước Trung Hoa!

Nếu bây giờ Trung Quốc quyết định cắt đứt sợi dây cuống rún, tách ra khỏi đồng đô la Mỹ thì sao? Họ sẽ hoàn toàn độc lập về chính sách tiền tệ của họ, không lệ thuộc vào các quyết định của Hệ thống Dự trữ Liên bang Mỹ nữa. Hiện nay chính phủ và quốc hội Mỹ đang kêu gọi Trung Quốc làm đúng như vậy: Xin quý ông thả cho đồng nguyên nổi chìm theo cung cầu ở thị trường. Nhưng cho tới nay chính phủ Trung Quốc vẫn nhất định không theo yêu cầu của Mỹ. Vì thả nổi đồng nguyên sẽ đưa chính sách tiền tệ của Trung Quốc vào một thế giới mới đầy phiêu lưu họ chưa có kinh nghiệm, họ sẽ không biết làm sao kiểm soát những hậu quả mà việc thả nổi gây ra. Ở nước Trung Hoa, một sai lầm nhỏ trong chính sách tiền tệ có thể làm hàng trăm triệu người mất việc làm; hậu quả xã hội rất đáng sợ!

Một ý kiến khác được ông Từ Vận Hồng đưa ra trên tạp chí Cầu Thị, là Trung Quốc dùng ảnh hưởng thương mại ngày càng lớn trên thế giới để thuyết phục các nước thay thế vai trò của đô la Mỹ bằng đồng nhân dân tệ. Đây là một giấc một giấc mơ của nhiều người Trung Hoa trong lục địa. Nhưng từ giấc mơ tiến tới sự thật sẽ còn rắc rối lắm!

Ngô Nhân Dụng
Nguồn: báo Người Việt

© Thông Luận 2011

Advertisements
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s